Tuồng, hát bộ dân gian truyền thống của người dân Miền Trung

11 months ago

Cùng với chính sách thực dân của đế quốc Pháp, một luồng văn nghệ lãng mạn lan tới ViệtNam, ảnh hưởng đến mọi hình thức nghệ thuật dân tộc. Để chiều theo thị hiếu khán giả Hà thành đương thời, tuồng Bắc đã chuyển hướng từ những vở đề cao anh hùng nghĩa sĩ sang những vở trữ tình lãng mạn, phỏng theo các truyện cổ Trung Quốc như Tái sinh kỳ ngộ, Anh hùng náo,… Trong những năm 1925 – 1945, tuồng lại bị phân hóa một lần nữa trước sự bành trướng của cải lương Nam Bộ, tại Hà Nội. Sau thời kỳ diễn những vở trữ tình lãng mạn với quần áo thêu thùa cầu kỳ loè loẹt, với tên gọi tuồng cải cách (1900 – 1925), tuồng vẫn không đáp ứng được thị hiếu của khán giả Hà thành lúc đó đang ngưỡng mộ cải lương. Vì vậy, từ những năm 1930, tuồng cổ dần dần mất vị trí và khán giả nội thành, phải nhường chỗ cho tuồng Sài Gòn gọi là tuồng cải lương. Trong khi đó ở ven nội và ngoài thành, các gánh tuồng dân gian vẫn được khán giả nông thôn ưa chuộng. Các gánh, các phường tuồng Cổ Loa, làng Vàng (Cổ Bi) Gia Lâm, các phường tuồng ở dọc sông Hồng thuộc huyện Thanh Trì…vẫn giữ nguyên truyền thống xưa với những tích cổ điển không bị lai căng, phong cách và diễn xuất vẫn giữ những nét dân gian của luồng tuồng Bắc đã trên hai thế kỷ đối lập với hát bộ cung đình.

Tuồng, hát bộ dân gian truyền thống là một sân khấu ước lệ, tượng trưng. Tất cả những yếu tố trong tuồng như âm nhạc, múa hóa trang, phục trang…đều có tích cách điệu cao. Cũng như các sân khấu kịch hát dân tộc truyền thống khác, tuồng có hai lối biểu diễn bằng giọng điệu: nói và hát. Nhưng đặc biệt ở đây, vì nhu cầu sân khấu, các lối nói và hát không những phải tuân theo kỷluật của âm điệu, tiết điệu, mà còn phải chú trọng đến cách phát âm nữa. Diễn viên phải tùy theo hoàn cảnh và nhận xét để sáng tạo những âm sắc riêng cho từng câu, từng chữ. Tuồng Bắc rất chú trọng phần văn chương, dùng các loại văn xuôi văn vần và các thể thơ trong các vở hát. Tuồng còn là một loại kịch thơ phổ nhạc, được hát lên với sự hỗ trợ đắc lực của dàn nhạc và nhất là bộ gõ. Khi phường tuồng diễn ở sân đình, còn có trống chầu đặt trước sân khấu cho những người am hiểu nghệ thuật dùng để khen chê ngay đương trường. Nghệ thuật tuồng kết hợp ca hát với bộ điệu, vì vậy còn có tên là hát bộ. Múa trong tuồng là bộ điệu tượng trưng không giống như trong cuộc sống, nhằm biểu hiện cao độ nội tâm nhân vật, nhiều động tác đã cách điệu hóa tới mức thành những công thức có tính quy phạm.

 

Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là từ sau ngày giải phóng Thủ đô (1954), tuồng truyền thống đã được phục hồi và phát triển với nhiều vở diễn có giá trị được công chúng hâm mộ. Bằng tiếng nói riêng của mình, tuồng truyền thống đã góp phần làm phong phú thêm các loại hình sân khấu Hà Nội. Tuy nhiên, qua thời gian thử thách, tuồng truyền thống vẫn tự khẳng định là một loại hình mạnh, có ưu thế đối với các đề tài lịch sử (cải biên hoặc sáng tác mới), còn với các đề tài hiện đại thì sân khấu tuồng còn phải tiếp tục cố gắng tìm tòi sáng tạo nhiều hơn nữa, mới có thể giành được sự tán thưởng của đông đảo công chúng Thủ đô.

admin