Tài nguyên du lịch sinh thái ở Kiên Giang: Thị xã Hà Tiên

Thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương và vùng phụ cận Hà Tiên

Là nơi tập trung nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã thu hút nhiều tao nhân mạc khách xa xưa đến đây để chiêm ngưỡng cảnh đẹp. Người xưa gọi là thập cảnh. Hòn Chông, Hòn Trẹm thuộc huyện Kiên Lương: có bãi biển, có Chùa Hang trong núi đá, hòn Phụ Tử chơi vơi ngoài biển. Phong cảnh ở đây rất nên thơ.

Hang Moso (Kiên Lương): cách Hòn Chông 5km có những hang dọc theo bở biển Hòn Chông với những miệng hang quay ra biển, bên trong rộng, huyền bí như: Hang Tiền, Giếng Tiên; ngoài biển còn có các quần đảo như: Hải tặc, Bà Lụa, và nhiều quần đảo đẹp khác. Du khách có thể bơi thuyền trong hang. Hòn Nghệ: Cách Hòn Chông 14 km, ở đây có làng chày, bãi tắm nhỏ, tượng phật Bà cao 25m và chùa hang Hoàng Long Đảo, đặc sản là Mít nghệ.

Quần đảo Bà Lụa: Nằm ngoài khơi Hòn Chông, có nhiều đảo lớn nhỏ, độ cao 100 m trở xuống, cách đất liền (Cảng Hòn Chông) 5 đến 6 km là nơi du thuyền từ đất liền đi tham quan các đảo rất lý tưởng. Ở đây, có bãi tắm đẹp, đặc biệt là bãi tắm trên đảo Hòn Heo (Kiên Hải). Trong tương lai nếu được đầu tư đúng mức quần đảo này sẽ trở thành khu DLST hấp dẫn.

Quần đảo Hải Tặc (Hà Tiên): Cách Mũi Nai 11 km, Cách Phú Quốc 40 km. Quần đảo này có 14 hòn đảo. Trên đảo có nhiều bãi tắm nhỏ, đẹp, có rừng, nhiều bãi san hô, ốc, xà cừ, ngọc trai,rất thuận lợi để phát triển DLST, đặc biệt là DLST biển. Đây là quần đảo giáp 2 nước Việt Nam và Campuchia. Chính những đặc điểm này, tạo ra cho vùng đất tỉnh Kiên Giang có một danh lam, thắng cảnh đẹp, đa dạng, di tích lịch sử nổi tiếng có thể phát triển DLST và kết hợp với các khu vui chơi giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù.

Vai trò của phát triển du lịch sinh thái trong xây dựng nông thôn mới ở Kiên Giang

Thời gian qua, DLST góp phần quan trong trong việc làm thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển nhanh hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch và các lĩnh vực khác. Đến nay, hầu hết các khu du lịch đều có điện lưới quốc gia. Đến nay, tòan tỉnh có 88,72% hộ sử dụng điện lưới quốc gia lên 88,72%, hộ dùng điện phát máy, ắc quy 1,28%. Hộ chưa sử dụng điện là 10% (Riêng các khu du lịch sinh thái điện lưới quốc gia đã rộng khắp), hộ sử dụng nước sạch là 76,61%.

Phát triển DLST góp phần nâng cao trình độ dân trí để đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Hệ thống giáo dục – Đào tạo được mợ rộng. Hiện nay, toàn tỉnh có 46 trường mẩu giáo, 492 trường phổ thông, đã tiến hành xóa mù chử và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Toàn tỉnh có 4 trường cao đẳng, đại học với 378 giáo viên có hơn 2.550 sinh viên, 2 trường trung học chuyên nghiệp với hơn 280 giáo viên, và trên 5.082 sinh viên, hàng năm tốt nghiệp ra trường trên 2.000 sinh viên. Phối hợp với các trường đại học trên cả nước đào tạo chuyên ngành cho hàng nghìn sinh viên có trình độ đại học và cao đẳng. Các cơ sở đào tạo từng bước nâng cao chất lượng mở rộng qui mô, ngành nghề và loại hình đào tạo. Các cơ sở đào tạo từng bước nâng cao chất lượng mở rộng qui mô, ngành nghề và loại hình đào tạo. Đã nâng cấp trường Trung học Sư Phạm lễ trường Cao đẳng Sư Phạm, Trung học chuyên nghiệp thường xuyên lên Cao đẳng cộng đồng, Trường trung học kinh tế kỷ thuật, trường trung cấp nghề đã mở ra nhiều ngành đào tạo mới, hàng năm tuyển mới trên 4.000 học sinh, sinh viên thuộc 60 ngành nghề khác nhau. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường đáp ứng yêu cầu đào tạo trên nhiều lĩnh vực. Hàng năm, có trên 28% học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, tổ chức dạy nghề cho khoảng 15.000 người, giải quyết việc làm cho trên 20.000 người. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở được đẩy mạnh, trong đó có đội ngũ lao động làm việc trực tiếp trong lĩnh vực du lịch. Với đội ngũ này, tạo cơ sở cho DLST phát triển.

Những tồn tại của vấn đề đầu tư phát triển du lịch

Bên cạnh những kết quả trên thì việc đầu tư vào ngành du lịch còn nhiều hạn chế nhất định. Yếu kém chung của ngành là còn thiếu sức cạnh tranh nhất là cạnh tranh quốc tế du hạn chế về trình độ khai thác tài nguyên, về môi trường du lịch, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về trình độ xúc tiến đầu tư du lịch, về trình độ nguồn nhân lực, về kinh nghiệm quản lý và đặc biệt là về thiếu vốn đầu tư phát triển du lịch.

Thực trạng đầu tư cho thấy, phần lớn vốn đầu tư cho du lịch tập trung đầu tư vào cơ sở lưu trú, khách sạn, nhà hàng,trong khi đó nhu cầu của khách vào dịch vụ bổ sung ngày càng cao. Theo cơ cấu chi tiêu cho khách du lịch cho thấy rằng vấn đề chi tiêu cho dịch vụ lưu trú ăn uống ngày môt giảm, trong khi đó nhu cầu vui chơi giải trí đi thăm quan.. Theo số liệu thống kê lượng khách quốc tế quay lại Việt Nam chỉ là 10% -15%, nghĩa là cứ 10 khách du lịch đến Việt Nam thì chỉ có 1- 2 người quay trở lại. Lý do là vì họ không hài lòng về dịch vụ phục vụ bổ sung đi kèm. Như vậy, nếu tăng cường đầu tư vào dịch vụ bổ sung thì sẽ có một thị trường tương đối lớn của du khách quốc tế.

Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cũng có nhiều bấp cập, nhiều công trình còn đầu tư kéo dài, không hoàn thành đúng tiến độ dự án vì công trình không cân đối đủ nguồn vốn (Ngân sách nhà nước chỉ chi một phần, địa phương không thể tự cân đối ngân sách được). Ngoài ra mức vốn ngân sách Nhà nước hàng năm hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng còn bị động, nhỏ giọt so với mức vốn yêu cầu. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng còn dàn trải, kéo dài thời gian hoàn thành dự án, tăng khối nợ đối với các dự án chuyển tiếp và ảnh hưởng tới phát triển cơ sở hạ tầng du lịch theo mục tiêu nhằm tạo tính liên hoàn, liên kết giữa các vùng.